Loading ...
Thứ 4, ngày 30/07/2014 - 03:42:42 AM
Thông tin hữu ích
Mua Bán
AUD 19770.92 20068.92
CAD 19362.36 19792.71
CHF 23172.68 23640.01
DKK 0 3886.99
EUR 28314.06 28654.35
GBP 35648.81 36222.58
HKD 2702.82 2757.33
INR 0 360.74
JPY 205.44 209.38
KRW 0 23.05
KWD 0 75891.57
MYR 0 6734.39
NOK 0 3463.79
RUB 0 664.41
SAR 0 5838.55
SEK 0 3146.71
SGD 16848.74 17257.43
THB 654.62 681.98
USD 21205 21255
Cập nhật 7/30/2014 3:46:14 AM
Nguồn: Ngân hàng Ngoại Thương
Loại Mua Bán
SBJ
SJC
Cập nhật 7/30/2014 3:46:14 AM
Nguồn: Sacombank SBJ
Lượt truy cập: 766577
Quảng cáo nhà xưởng 01Quảng cáo nhà xưởng 03Quảng cáo nhà xưởng 04
Nhà máy 01
Thứ 5, 30/07/2014 - 03:42
Khái quát chung thị trường Liên Bang Nga

I/ KHÁI QUÁT CHUNG:

Liên bang Nga là nước có diện tích lớn nhất thế giới, trải dài trên hai lục địa Âu và Á.
- Diện tích: 17.075.400 km2
- Dân số: 142,2 triệu người (theo số liệu thống kê năm 2007), gồm trên 100 dân tộc, trong đó dân tộc Nga chiếm 81,5%; Tác-ta 3,8%, U-crai-na 3%. Ngoài ra còn gần 25 triệu người Nga sống ở các nước Cộng hoà thuộc Liên Xô cũ và gần 2 triệu ở các nước khác trên thế giới.
- Ngày Quốc khánh: 12/6/1990 (Ngày Tuyên bố chủ quyền).
- Thủ đô: Mát-xcơ-va (gần 10 triệu dân).
- Đơn vị tiền tệ: Đồng rúp.
- Cơ cấu hành chính: Liên bang Nga chia làm 84 khu vực lãnh thổ, hành chính là chủ thể của Liên bang, gồm:
+ 21 nước cộng hoà.
+ 47 tỉnh.
+ 01 tỉnh tự trị.
+ 08 vùng.
+ 5 khu tự trị.
+ 02 thành phố trực thuộc TW: Mát-xcơ-va và Xanh Pê-téc-bua.
Ngoài ra, nước Nga được chia thành 7 đại khu hành chính do người được Tổng thống bổ nhiệm đứng đầu.

- Lãnh đạo chủ chốt hiện nay:
+ Tổng thống: Đ. A. Mét-ve-đép (nhậm chức ngày 07/5/2008, nhiệm kỳ 4 năm).
+ Thủ tướng Chính phủ: V. V. Pu-tin (được bổ nhiệm 08/5/2008).
+ Chủ tịch Hội đồng Liên bang: X. Mi-rô-nốp (được bầu lần thứ 2, tháng 3/2007, nhiệm kỳ 4 năm).
+ Chủ tịch Đu-ma Quốc gia: G. Gờ-rư-dơ-lốp (được bầu lần thứ 2, tháng 12/2007, nhiệm kỳ 4 năm).

II. MỘT SỐ NÉT VỀ LỊCH SỬ
Nước Nga cổ đại - Nga Ki-ép (lấy tên của thủ đô Ki-ép lúc đó) xuất hiện vào thế kỷ thứ IX ở trên một phần lãnh thổ Nga ngày nay. Đến giữa thế kỷ XIII người Mông Cổ - Tácta xâm lược Nga và đến năm 1480 nhân dân Nga đã lật đổ sự thống trị Mông Cổ - Tác Ta.

Năm 1613 bắt đầu triều đại Rô-ma-nốp. Năm 1721, Sa Hoàng Pie Đại đế tuyên bố Nga trở thành Đế chế Nga. Trong hơn 300 năm triều đại Rô-ma-nốp (1613 – 1917), nước Nga đã chinh phục được nhiều vùng lãnh thổ và chiến thắng quân xâm lược: năm 1654 sáp nhập U-crai-na, năm 1700 - 1721 chinh phục các nước vùng Ban tích, năm 1812 đánh thắng đại quân Na-pô-lê-ông của Pháp, thế kỷ XVIII - XIX chiếm Crưm, Cáp-ca-dơ, một phần Balan, Phần Lan, Trung Á. Năm 1861, Sa hoàng đã tiến hành cải cách xoá bỏ chế độ nông nô.

Chiến tranh Nga - Nhật năm 1905 và việc Nga tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914 đã làm suy yếu Đế chế và dẫn đến cách mạng tư sản năm cách mạng 1905 – 1907 và cách mạng vô sản tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917, làm sụp đổ Đế quốc Nga và cho ra đời Nhà nước Xô Viết, Nhà nước công - nông đầu tiên trên thế giới. Năm 1922 thành lập Liên bang Xô Viết gồm 14 nước cộng hoà. Năm 1945 Hồng quân Liên Xô đã chiến thắng phát xít Đức - Nhật trong chiến tranh vệ quốc thời kỳ thế chiến thứ 2.

Sau hơn 70 năm tồn tại và đã từng là một cực của thế giới hai cực, đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa, do kết quả của đấu tranh quyền lực và đường lối trong nội bộ ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô, ngày 12/6/1990 nước Nga tuyên bố chủ quyền. Năm 1991, Bô-rít En-xin được bầu làm tổng thống đầu tiên của Nga. 19/8/1991 xảy ra vụ đảo chính lật đổ tổng thống Liên Xô Goóc-ba-chốp nhưng bị thất bại. Ngày 8/12/1991 những người đứng đầu 3 nước Nga, U-crai-na, Bê-la-rút tại Be-lô-vê-giơ (Bê-la-rút) tuyên bố giải thể Liên Xô và thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG).

III/ NỘI TRỊ
1. Chính trị - nội bộ

Từ năm 2000 đến nay, nước Nga dưới sự lãnh đạo của Tổng thống V. Pu-tin đã dần dần đi vào ổn định, phục hồi và phát triển.

Tổng thống V. Pu-tin đã thi hành một loạt biện pháp nhằm ổn định tình hình, củng cố quyền lực của Trung ương, cải cách hệ thống chính trị, củng cố các định chế nhà nước, bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ Nga: sửa đổi luật bầu cử, tăng cường tính đại diện, tính minh bạch trong các cơ quan dân cử, nâng cao vai trò và ảnh hưởng chính trị của Đảng thân chính quyền "Nước Nga thống nhất", quản lý chặt hơn các tổ chức xã hội phi chính phủ, tăng vai trò của Nhà nước trong các ngành kinh tế chủ chốt, đặc biệt là dầu khí, xây dựng các chủ thể mạnh thông qua sáp nhập các vùng để hỗ trợ nhau về kinh tế, phát triển văn hoá, xã hội; áp dụng các biện pháp mạnh về quân sự để tiêu diệt bọn đầu sỏ ly khai ở Che-snia đi đôi với các biện pháp chính trị - kinh tế, cơ bản lập lại trật tự tương đối ở vùng Bắc Cáp-ca-dơ.

Tháng 3/2008 đã diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống. Ông Mét-ve-đép Đờ-mi-tơ-ri A-na-tô-li-e-vích đã trúng cử Tổng thống ngay từ vòng đầu với hơn 70% số phiếu. Sau lễ nhậm chức vào ngày 7/5/2008, ông đã bổ nhiệm cựu Tổng thống Pu-tin làm Thủ tướng. Đồng thời ông Pu-tin cũng chấp nhận làm Chủ tịch Đảng Nước Nga thống nhất. Quá trình chuyển giao quyền lực của Nga đã diễn ra trong hoà bình và hoàn toàn hợp hiến. Hiện nay, giữa Tổng thống và Thủ tướng đã hình thành cơ chế phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện cho bộ máy Nhà nước và Chính phủ hoạt động tốt.

Theo sáng kiến của Tổng thống mới Đ. Mét-ve-đép (nêu trong Thông điệp Liên bang tháng 11/2008), Quốc hội Nga (Hạ viện và Thượng viện) đã nhất trí thông qua một số sửa đổi trong Hiến pháp và Luật Bầu cử của Nga, và Tổng thống Đ. Mét-ve-đép đã phê chuẩn theo luật định. Đó là: nâng nhiệm kỳ Tổng thống lên 6 năm, nhiệm kỳ Đu-ma lên 5 năm; bỏ quy định các Đảng phái chính trị phải đặt cược khi tham gia bầu cử; Chính phủ phải có trách nhiệm báo cáo hàng năm trước Quốc hội. Quá trình cải cách thế chế của Nga vẫn đang tiếp tục trong năm 2009.

2. Kinh tế -  xã hội
Trải qua những khó khăn của chuyển đổi, khủng hoảng nặng nề trong suốt thập kỷ 90 của thế kỷ 20, từ năm 2001 đến tháng 9/2008, nhờ vào sự tăng cao về giá cả của các mặt hàng năng lượng xuất khẩu, tăng trưởng đầu tư, nhu cầu tiêu dùng nội địa và có sự đầu tư thích đáng, kinh tế Liên bang Nga phát triển tương đối ổn định, tốc độ tăng trưởng GDP khá cao, trung bình 6-8%/năm. Nga trở thành một trong 10 nền kinh tế lớn trên thế giới, GDP năm 2007 đạt trên 1200 tỷ đôla, tăng 8,3 %, sản xuất công nghiệp tăng 6,3%, kim ngạch ngoại thương tăng 20,8 %, đầu tư cơ bản tăng 25,5%. Nga đã trả trước thời hạn khoản nợ 23,7 tỷ USD kế thừa từ thời Liên Xô cho Câu lạc bộ Pa-ri. Lạm phát từ tốc độ phi mã trong những năm cuối thế kỷ 20 đến năm 2007 còn ở mức 12%. Thu nhập thực tế của người dân khoảng 8000USD/năm; thất nghiệp giảm gần một nửa. Chính phủ Nga đang triển khai thực hiện 4 chương trình quốc gia về cải thiện nhà ở, giáo dục, y tế và khoa học (khoảng 5 tỷ USD từ ngân sách nhà nước) và đầu tư thích đáng để hiện đại hoá quân đội.

Tuy nhiên, từ quý 3 năm 2008 trở lại đây, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, cũng như do giá dầu giảm mạnh, kinh tế Nga đã bị ảnh hưởng nặng nề. Tuy cả năm 2008 vẫn đạt mức tăng trưởng 6%, nhưng quý IV/2008 tăng trưởng hầu như bằng 0; thị trường chứng khoán giảm 60-70%; thất nghiệp tăng mạnh; dự trữ ngoại tệ giảm từ 680 tỷ USD xuống còn 400 tỷ USD và sẽ còn giảm nhiều trong thời gian tới. 

Nga còn có những vấn đề lớn về kinh tế - xã hội phải khắc phục như: cơ cấu kinh tế không cân đối, tăng trưởng kinh tế cũng như thu ngân sách còn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu nguyên nhiên liệu (khoảng 50%), tỉ lệ thất thoát vốn còn lớn (khoảng trên 10 tỷ USD mỗi năm); lạm phát cao hai con số; an ninh xã hội chưa bảo đảm, tư tưởng bài ngoại và dân tộc cực đoan có dấu hiệu gia tăng, tệ quan liêu, tham nhũng phổ biến, môi trường đầu tư, kinh doanh kém thuận lợi; khả năng cạnh tranh của các ngành sản xuất trong nước chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, đầu tư thay đổi công nghệ mới và phát triển các ngành kỹ thuật cao còn hạn chế.

Trước tình hình đó, Chính phủ Nga đã đề ra Chiến lược phát triển đến năm 2020 và đã kịp thời đưa ra hai Chương trình chống khủng hoảng. Chương trình thứ nhất với những biện pháp mang tính cấp bách, trị giá 200 tỷ đôla nhằm cứu hệ thống tài chính ngân hàng khỏi đổ vỡ. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán Nga vẫn bị tác động nghiêm trọng. Chương trình thứ hai bao gồm 55 điểm, trong đó đề ra các biện pháp cụ thể nhằm cải thiện tình hình tài chính và các ngành kinh tế quan trọng. Đồng thời, Nga sẽ tích cực tiến hành cải cách hệ thống luật pháp, hướng mạnh vào kích cầu nội địa, ưu tiên phát triển nông nghiệp, xây dựng, phát triển các tổ hợp công nghiệp quốc phòng, chế tạo máy nhằm bảo đảm đà tăng trưởng và giải quyết các vấn đề xã hội như nhà ở, việc làm, hỗ trợ thất nghiệp.

IV/ ĐỐI NGOẠI
Trong thời gian qua, Nga thi hành chính sách đối ngoại thực dụng và linh hoạt, đa dạng hoá quan hệ trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng, tranh thủ hợp tác kinh tế với các đối tác khác nhau, tạo môi trường hoà bình ổn định cho đất nước phát triển. Ngày 15/7/2008, Nga đã thông qua Học thuyết mới về Chính sách đối ngoại, đề ra những đường hướng cụ thể cho hoạt động đối ngoại của Nga trong 5 năm tới.

- Quan hệ với Mỹ và phương Tây: là hướng ưu tiên chính trong chính sách đối ngoại của Nga. Hai bên phát triển hợp tác trong lĩnh vực chống khủng bố và giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực.

- Quan hệ với các nước SNG là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Nga vì đây là khu vực có nhiều mối ràng buộc về lịch sử, an ninh, kinh tế, văn hoá với Nga.

- Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực chiến lược quan trọng và nhiều lợi ích đối với Nga, và gần đây được Nga coi trọng hơn trước. Vì vậy, Nga chủ trương tích cực hội nhập và tham gia vào tất cả các cơ chế đối thoại của khu vực (ASEAN, ARF, APEC...), mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước ở khu vực, trong đó có các nước Đông Nam Á.

Nga đẩy mạnh quan hệ song phương với Trung Quốc và Ấn Độ cũng như khuôn khổ hợp tác 3 bên Nga-Trung-Ấn. Về kinh tế - thương mại, Trung Quốc và Ấn Độ đều là thị trường tiềm năng rất lớn đối với Nga (kim ngạch thương mại Nga - Trung đạt hơn 30 tỷ đôla năm 2006).

Bên cạnh đó, Nga tích cực đa dạng hóa các mối quan hệ đối ngoại, chú trọng tới quan hệ với các nước Trung Đông, Mỹ La Tinh, Châu Phi.


V/ QUAN HỆ VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA
Việt Nam (lúc đó là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) đã thiết lập quan hệ với Liên Xô (Liên bang Nga ngày nay) vào ngày 30/1/1950.

1. Quan hệ chính trị không ngừng được tăng cường và có độ tin cậy khá cao do các chuyến thăm cấp cao và cấp Bộ, ngành, địa phương diễn ra thường xuyên. Năm 2001, hai Bên thiết lập quan hệ đối tác chiến lược trong dịp chuyến thăm chính thức Việt Nam đầu tiên của Tổng thống Nga V. Pu-tin. Chuyến thăm chính thức Liên bang Nga của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết từ ngày 26-29/10/2008 sẽ tạo động lực mới cho việc phát triển quan hệ giữa hai nước trong thời gian tới.

Cơ sở điều ước pháp lý mới cho quan hệ hợp tác song phương đã được tạo dựng khá đầy đủ. Từ năm 1991 đến năm 2007 đã có khoảng 50 văn kiện song phương được ký kết. Đặc biệt, hai nước đã thúc đẩy giải quyết dứt điểm thỏa đáng một số vấn đề tồn đọng trong quan hệ từ thời Liên Xô để lại như xử lý nợ của Việt Nam, vấn đề Nga chấm dứt trước thời hạn việc sử dụng quân cảng Cam Ranh.

Hai Bên có đồng quan điểm trên nhiều vấn đề quốc tế và khu vực, phối hợp ủng hộ nhau trên các diễn đàn quốc tế như LHQ, APEC, ASEAN, ARF. Ta ủng hộ Nga tham gia Diễn đàn ASEM và Cấp cao Đông Á…

Trong vấn đề Nam Ô-xe-tia, Việt Nam có lập trường thông hiểu các hành động của Nga đối với Gru-dia, đồng thời nhất quán tôn trọng luật pháp quốc tế và nguyên tắc giải quyết xung đột bằng các biện pháp hoà bình. Lập trường chính thức của Việt Nam trong vấn đề này như sau: Việt Nam trước sau như một chủ trương giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình. Do đó, Việt Nam ủng hộ các nỗ lực gìn giữ hoà bình của Nga tại Cáp-ca-dơ, bao gồm cả việc Nga giúp nhân dân Nam Ô-xe-tia và Áp-kha-dia bảo đảm an ninh, khôi phục và phát triển kinh tế.

2. Quan hệ kinh tế -  thương mại, đầu tư :

+ Về thương mại: kim ngạch từ chỗ chỉ khoảng 350-400 triệu USD vào giữa những năm 90 đã lên tới hơn 1 tỉ USD vào năm 2007, trung bình tăng 15%/năm. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam chủ yếu là thủy hải sản, may mặc, cao su, giầy dép, các mặt hàng nhập khẩu chính là than, thép, phôi thép, phân bón, xăng dầu. Năm 2008, kim ngạch hai chiều đạt 1,641 tỷ USD, trong đo Việt Nam xuất khẩu sang Nga 671 triệu USD và nhập khẩu từ Nga 970 triệu USD…

- Trong lĩnh vực đầu tư, Nga có 55 dự án với tổng số vốn là 302,9 triệu USD, đứng thứ 23/81 các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam.

Thời gian qua, nhiều tập đoàn và doanh nghiệp lớn của Nga đã sang tìm hiểu và khảo sát thị trường Việt Nam. Tháng 11/2007, lần đầu tiên gần 100 doanh nghiệp đại diện cho 50 công ty lớn của Nga do Chủ tịch Phân ban Nga trong Hội đồng doanh nghiệp Nga - Việt dẫn đầu đã thăm Việt Nam, tìm hiểu khả năng đầu tư  vào Việt Nam.

- Dầu khí, năng lượng vẫn là lĩnh vực hợp tác truyền thống và hiệu quả, đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách hai nước Việt – Nga. Tháng 10/2008, hai Bên đã ký Nghị định thư chuyển đổi Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên sau năm 2010. Nga và Việt Nam tiếp tục hợp tác trong lĩnh vực dầu khí không chỉ ở Việt Nam mà còn ở Nga và tiến tới ở các nước thứ ba. Nga tiếp tục hợp tác tốt với Việt Nam trong việc hiện đại hóa và xây mới các công trình năng lượng tại Việt Nam. Tập đoàn khí đốt GAZPROM của Nga cũng đang mở rộng hợp tác với PETROVIETNAM.

3. Hợp tác khoa học, công nghệ, giáo dục – đào tạo, du lịch được tăng cường, hợp tác văn hoá được khôi phục. Các hoạt động giao lưu văn hoá giữa hai nước diễn ra sôi nổi, trong đó có việc tổ chức Những ngày Văn hoá Nga tại Việt Nam và những ngày văn hoá Việt Nam tại Nga. Hợp tác trong lĩnh vực du lịch ngày càng phát triển, lượng khách Nga sang Việt Nam tăng trung bình hơn 30% từ năm 2006 trở lại đây, đạt khoảng hơn 40.000 khách/năm. Từ 01/01/2009, Việt Nam đơn phương miễn thị thực cho khách Nga vào Việt Nam dưới 15 ngày.

-  Nga vẫn là một trong những nước góp phần đào tạo nguồn nhân lực chính của ta. Hiện nay, hàng năm Nga cấp cho ta hơn 250 suất học bổng đào tạo đại học và sau đại học tại các trường của Nga. Ngoài ra, số lượng lưu học sinh du học theo diện tự túc lên đến hơn 5000 người. 

Hợp tác địa phương đã được nối lại giữa một số địa phương hai nước thông qua trao đổi đoàn và ký các văn bản hợp tác.

4. Về cộng đồng người Việt Nam tại Liên bang Nga: Do yếu tố lịch sử và trên cơ sở quan hệ hữu nghị giữa hai nước, cộng đồng người Việt Nam (khoảng 60 - 80 nghìn người) đã tồn tại và làm ăn, sinh sống tại Nga gần hai thập kỷ. Tuy có vấn đề địa vị pháp lý còn chưa rõ ràng ổn định, nhưng nhìn chung, người Việt không bị kỳ thị và phân biệt đối xử. Một số đã trở thành doanh nhân thành đạt, đầu tư tại Nga và về trong nước. Tháng 10/2008, hai bên đã ký 03 Hiệp định về: Hiệp định về lao động có thời hạn, Hiệp định hợp tác đấu tranh chống di cư bất hợp pháp và tạo thuận lợi cho di cư hợp pháp và Hiệp định nhận trở lại công dân tạo cơ sở pháp lý cho cộng đồng ta cư trú hợp pháp ở Nga và mở ra triển vọng hợp tác trong lĩnh vực sử dụng lao động./.

Các bài mới
Tin mới nhất
Lao động xuất cảnh 01Lao động xuất cảnh 02
Công xưởng 01Công xưởng 02
Chung cư 02Chung cư 01Chung cư
Công trường 01Công trường 02